Tự điển có thể sót nhưng không thể sai!

0

Dù có nhiều khó khăn trong việc sưu tập tài liệu, nhưng viết lịch sử có thể thiếu, sót nhưng không thể sai hoặc cố gắng đừng sai. Và người nước ngoài có thể viết sai nhiều chi tiết lịch sử của một đất nước nào đó nhưng chúng ta không được phép sai.
Đó là trường hợp của cuốn sách Từ điển lịch sử Sài Gòn-thành phố Hồ Chí Minh của Justin Corfield do Bùi Thanh Châu, Đoàn Khương Duy dịch, Phạm Viêm Phương hiệu đính, cập nhật do Đại học Hoa Sen và nhà xuất bản Hồng Đức phối hợp xuất bản, vừa phát hành vào cuối tháng 11-2016. Người viết là người nước ngoài có thể viết sai vì nhiều lý do nhưng người biên tập, đặc biệt là người hiệu đính cập nhật thì không được phép hoặc phải cố gắng tránh sai tối đa. Có thể thiếu nhưng không thể sai.
Ngay phần niên biểu trang xxi người đọc có chút hiểu biết về Sài Gòn đã thấy vương vướng.
1- 300-400. Một ngôi chùa Phù Nam được dựng gần một ao sen được cho là linh thiêng (đúng vị trí của chùa Phụng Sơn Tự sau này).
Ngôi chùa được coi là xưa nhứt vùng đất Gia Định xưa chính là chùa Cây Mai. Trịnh Hoài Đức trong cuốn địa chí đầu tiên của đất Gia Định là Gia Định thành thông chí lưu hành khoảng năm 1820, viết “Gò Cây Mai. Càch phía Nam trấn 30 dặm rưỡi, ở đây, gò đất nổi cao có nhiều Nam mai….Trên có ngôi chùa Ân Tôn…Lại có suối trong chảy quanh chân gò các du nữ chiều mát chống thuyền hái sen…Gò nầy xưa là chỗ chùa thấp của nước Cao Miên, nền móng còn nhận rõ. Năm Bính Tú (1816) niên hiệu Gia Long 15 có thầy tăng trùng tu lại, đào lấy được gạch ngói cỡ lớn của đời xưa rất nhiều…” (Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, mục Xuyên sơn chí trấn Phiên An, tập thượng, Nha văn hóa Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn 1972, trang 37, 38).
Đây là ngôi chùa duy nhứt được nói đến trong cuốn sách nầy và cũng là ngôi chùa duy nhứt được ghi nhận trên bản đồ Trần Văn Học năm 1815.
Có thể nói đây là ngôi chùa xưa nhứt của đất Gia Định.
Sau năm 1859, chùa Cây Mai đã bị quân Pháp biến thành địa điểm quân sự cho tới nay. Vị trí của chùa nằm ở gò cao góc đường Nguyễn Thị Nhỏ-An Dương Vương quận 11. Còn chùa Gò Phụng Sơn Tự là ngôi chùa khác nằm gần chùa Cây Mai chứ không phải “đúng vị trí” như sách viết.
2- 1698. Thị trấn Prey Nokor bị người Việt Nam chiếm và đổi tên thành Gia Định. Trong suốt thế kỷ 18, nó mang tên Sài Gòn.
Năm 1620, vua Chân Lạp thời bấy giờ là Chey Chetta II cưới công nữ Ngọc Vạn và phong bà làm hoàng hậu dù là vợ thứ. Từng là con tin ở nước Xiêm (Thái Lan), ông vua nầy muốn xây dựng lại đất nước, thoát khỏi ảnh hưởng của nước Xiêm nên phải dựa vào thế lực của chúa Nguyễn. Vì vậy, năm 1623, khi chúa Nguyễn đề nghị được đặt hai đồn thu thuế ở Prei Nokor và Kas Krobey (Sài Gòn và Chợ Lớn ngày nay), đã được triều đình Chey Chetta II chấp thuận. Cả hai địa phương nầy đều là đất thấp, người Khmer thích ở vùng đất cao ráo, gần như không người cư ngụ. Người Việt, Hoa đã ra công khai phá, cấy trồng, gìn giữ và phát triển để được như ngày nay, nên không thể gọi là “chiếm” được. Xin lưu ý, vùng đất nầy vốn là đất của người Phù Nam đã bị người Chân Lạp đánh chiếm trước đó gần 10 thế kỷ.
Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh đã chánh thức đặt vùng đất nầy dưới sự cai quản của người Việt, lập thành quận huyện. Cả vùng đất từ Biên Hòa, Bà Rịa đến mũi Cà Mau được đạt tên là Gia Định!
Còn Sài Gòn là tên của cái chợ sau nầy được gọi là Chợ Lớn Cũ, hình thành từ cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, dấu vết còn lại là bưu điện quận 5 hiện nay. Sài Gòn có thể là cách phát âm hai chữ Đề Ngạn (nghĩa là Chợ Lớn) theo âm Quảng Đông là Tài Ngạn, Thầy Ngồn bị người Việt nói trại ra thành Sài Gòn. Có thể suy đoán như vậy khi nghe người Hoa Quảng Đông nói chữ “xế” bị người Việt biến thành chữ “xe”.
Khu vực Sài Gòn hiện nay xưa có tên là Bến Nghé.
Sau khi chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ là Gia Định, Biên Hòa và Định Tường năm 1862 thì tên Sài Gòn mới xuất hiện ở vị trí trung tâm của thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, dù trước đó Sài Gòn đã xuất hiện trong bản báo cáo của Charner, sau khi hạ Đại đồn Chí Hòa. Như vậy không phải “suốt thế kỷ 18” mà là giữa thế kỷ 19 tên Sài Gòn mới xuất hiện ở cái nơi mà trước đó là Bến Nghé và xưa hơn là Kas Krobey.
3- 1859. Bắt đầu khởi công xây dựng Tòa tổng giám mục. Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi được quy hoạch.(trang xxiii)
Không thấy ghi chép nào của trong và ngoài nước về việc người Công giáo ở Sài Gòn “khởi công xây dựng tòa Tổng giám mục và quy hoạch nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi trong năm 1859”, thời điểm mà quân Pháp còn bận rộn với chiến trường Trung Quốc và số quân còn đóng tại Sài Gòn liên tục bị nghĩa quân Việt Nam tấn công. Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi chỉ được quy hoạch sau năm 1862 trên phần đất vốn là khu vực nghĩa trang của người Việt nằm ven thành Gia Định xưa. Và cái tên Mạc Đĩnh Chi chỉ có sau năm 1955. Còn Tòa Tổng giám mục của đạo công giáo, nếu hiểu theo cách nào đó thì đã được Nguyễn Ánh xây dựng năm 1790 tại nơi mà nay là nền của Bảo tàng lịch sử thành phố. Ngôi nhà nầy sau đó được dời đi nơi khác và hiện nay nằm trong khuôn viên số 180 Nguyễn Đình chiểu quận Ba. Còn Tòa Tổng giám mục hiện tại chỉ được xây dựng vào đầu thế kỷ 20 do giám mục Nguyễn Bá Tòng thực hiện.
4- 1861. Pháp tấn công thành Sài Gòn, dẫn đến trận Đại đồn Chí Hòa (24, 25 tháng hai) và việc đốt phá thành này (8 tháng ba). (trang xxiii)
Liên quân Pháp-Tây Ban Nha đã tấn công “thành Gia Định” vào đầu năm 1859, sau đó phá hũy bằng chất nổ, chớ không phải đốt phá, thành nầy vào ngày 8-3-1859. Xin lưu ý, thành Gia Định chớ không phải thành Sài Gòn!
5- 1864. Khởi công xây dựng…dinh Norodom (về sau là Dinh Độc Lập, nay là Dinh thống Nhất) (trang xxiv)
Dinh Norodom nay là dinh Thống Nhất được đặt viên đá đầu tiên vào ngày 22-3-1868
6- 1870. Chợ Bến Thành bị thiêu hủy trong một trận hỏa hoạn. (trang xxiv)
Trong lịch sử Sài Gòn, chỉ có chợ Sài Gòn bị cháy một phần năm 1870 dẫn tới việc xây dựng nhà lồng mới. Không có chuyện chợ Bến Thành bị cháy.
7- 1874. Các lớp đầu tiên khai giảng tại Le Collège Indigène (trường trung học bản xứ nay là trường trung học Lê Quý Đôn).(trang xxiv)
Năm 1874 trường trung học bản xứ được xây dựng. Nhưng trước đó rất lâu, từ năm 1865, trường nầy đã hoạt động dưới cái tên quen gọi là trường Khải Tường. Gia Định Báo số ra ngày 1-2-1874 có viết “trường Khải Tường, Trương Minh Ký, nguyên làm thầy giáo dạy giúp hạng ba lên hạng nhì đồng niên ăn 1400 quan tiền” và cũng trong số báo nầy có đăng danh sách 84 học trò trường Khải Tường, trong đó có ông Huỳnh Công Miên (Gò Công) người thường được dân chúng gọi là Cậu Hai Miên, hay Cậu Hai Miễn Tử. Như vậy đến năm 1874, trường Khải Tường sau là trung học bản xứ nay là Lê Quý Đôn đã hoạt động trước năm 1874 rất lâu.
8- 1893. Trường đua Phú Thọ được thành lập.(trang xxiv)
Đua ngựa là trò chơi mà lính Pháp đã mang vào Sài Gòn từ lúc họ đặt chân đến đây. Năm 1865 đã có đua ngựa tại Đồng Tập Trận, khu vực từ bịnh viện Bình Dân đến Bộ tư lệnh thành, và năm 1872 Gia Định Báo đã có phụ trương đua ngựa. Năm 1893, Hội đua ngựa ở Sài Gòn chánh thức thành lập và trường đua gọi là trường Vườn Bà Lớn nằm ở khu vực Bộ tư lệnh thành và Maximark, từ Cao Thắng đến ngả sáu và từ Điện Biên Phủ đến đến Bộ tư lệnh thành. Năm 1932, Hội đua ngựa mới mua miếng đất 48 ha ở làng Phú Thọ xây trường đua mới ở đó với tên trường đua Phú Thọ.

tu-dien-lich-su-ai-gon-sai-kien-thuc
9- Tờ báo hiện đại đầu tiên ở Sài Gòn là Gia Định Báo được xuất bản từ tháng Tư 1865, do Huỳnh Tịnh Của (1834-1909) làm chủ bút…Sau nó được tăng trang và có thêm tiểu luận lịch sử, thơ và bài kể lại những truyền thuyết Việt Nam. Xuất bản hai lần một tháng cho đến năm 1869, sau đó nó phát hành mỗi tuần ba kỳ. (trang 15)
Trước khi có Gia Định Báo, Pháp đã xuất bản vài tờ báo bằng tiếng Pháp, Hoa. Gia Định Báo là tờ báo “tiếng Việt đầu tiên”. Ai là chủ bút báo nầy tới nay vẫn còn đang tìm hiểu, bởi trong báo không thấy nói. Từ cuối năm 1881, mới xuất hiện những truyện ngắn do Trương Minh Ký chuyển thể từ thơ La Fontaine. Từ thập niên 1890 mới xuất hiện những truyện thơ, truyện dịch, hoàn toàn không có “tiểu luận lịch sử”. Báo xuất bản hàng tháng/kỳ. Đến năm 1872 thì xuất bản hai kỳ/ tháng và từ năm 1881 tới ngày đình bản xuất bản hàng tuần. Chưa thấy số báo nào xuất bản “mỗi tuần 3 kỳ”.
10- Đầu thế kỷ XX Pháp đưa ra những quy định nghiêm nhặt buộc mọi tờ báo đều phải có giấy phép chứng tỏ nó là của công dân Pháp và đã được cấp phép (trang 16)
Không phải đầu thế kỷ XX mà cuối thế kỷ 19 đã có quy định “khó chịu” rồi. Năm 1881, Pháp ra Luật báo chí với qui định rất thoáng “là công dân Pháp ở bất cứ nơi đâu, muốn ra báo phải thông báo với biện lý cuộc trước 24 giờ tên, địa chỉ của tờ báo, tên chủ nhiệm, chủ bút và người quản lý tờ báo”. Cuối năm 1898, trước sức ép của toàn quyền Đông Dương (tất nhiên vì cả quyền lợi của Pháp nữa), Tổng thống Pháp đã ký bổ sung Luật báo chí dành riêng cho thuộc địa Đông Dương là “báo ngoài tiếng Pháp, phải được phép của Toàn quyền Đông Dương”. Chính vì vậy, các tờ báo tiếng Việt thời Pháp thuộc từ đầu thế kỷ XX đều do người Pháp làm chủ. Muốn đấu tranh bằng báo chí, người Việt phải có Pháp tịch và ra báo tiếng Pháp thì khỏi phải xin phép (theo Luật 1881), trường hợp của báo Chuông Rè của ông Nguyễn An Ninh là điển hình.
11- Sau 30-4-1975, các tờ báo ở Sài Gòn đều đình bản và chỉ có duy nhất một nhật báo ở thành phố nầy, Sài Gòn Giải Phóng, cơ quan ngôn luận của Đảng bộ Đảng cộng sản TPHCM…(trang 17)
Sau 30-4-1975, Sài Gòn Giải Phóng không phải là tờ báo hàng ngày duy nhứt mà còn có báo Tin Sáng ra đời ngày 10-8-1975. Tờ báo tư nhân nầy tồn tại đến cuối tháng 6-1981 thì “đứt phim” như lời của ông Hồ Ngọc Nhuận, chủ bút, viết trong hồi ký Đời. Báo do ông Ngô Công Đức làm chủ nhiệm, Nguyễn Văn Binh làm quản lý.
Viết lịch nước khác sai là bình thường nhưng viết lịch sử nước mình mà sai thì…Tự điển thì cần gọn, đầy đủ nhưng không được phép sai. Chỉ mới điểm 17 trang đã có tới 11 điểm sai, e rằng đến trang thứ 500 còn có thêm nhiều cái sai nữa. Trong khuôn khổ một bài báo tôi không thể dẫn ra hết các điểm sai ấy. Một cuốn tự điển, cuốn sách cái để tham khảo, trích dẩn mà sai như thế e rằng sẽ ảnh hưởng rất nhiều về sau. Bởi sách rồi sẽ được nhiều người, từ giới nghiên cứu, học sinh, sinh viên, người tò mò, người làm du lịch…đọc và có sự hiểu sai lệch về Sài Gòn, điều mà không ai muốn. Và cái sai nầy thuộc về người biên tập và người hiệu đính, chớ không phải tác giả. Vì tác giả là người nước ngoài, nguồn tham khảo đa số từ nước ngoài, khó chính xác. Còn chúng ta là người tại chỗ, là người Việt thì phải biết trân trọng lịch sử của chính mình, phải biết tận dụng không gian rộng của sách để có những chú giải “cho đúng”.
Có thể nói đây là môt cuốn sách lạ, cần thiết cho những ai muốn có hiểu biết về Sài Gòn một thuở.
Lịch sử thì còn nguyên đấy dù tháng năm có đi qua bao lâu nhưng cái sai hôm nay nếu không chấn chỉnh kịp có thể dẫn tới những hậu quả khó lường. Nhà xuất bản cần thu hồi, điều chĩnh gấp nếu không sẽ gây hiệu ứng ngược.

Theo FB Trần Nhật Vy

LEAVE A REPLY